
Thực trạng Chương trình chuyển đổi số Quốc gia của Việt Nam
Chuyển đổi số tại Việt Nam được xác định là động lực then chốt phát triển kinh tế – xã hội, với nền tảng là Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định 749/QĐ-TTg) và được cụ thể hóa mạnh mẽ qua Luật Chuyển đổi số 2026 cùng Quyết định 433/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 phê duyệt Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026–2030. Đề án đặt mục tiêu hỗ trợ ít nhất 500.000 SME, trong đó ít nhất 300.000 doanh nghiệp được hỗ trợ ứng dụng công nghệ số, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo, nhằm nâng cao năng suất và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Những điều tích cực đã làm được:
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực đáng kể: nhận thức về chuyển đổi số của doanh nghiệp được nâng cao rõ rệt, nhiều nền tảng số quốc gia vận hành hiệu quả, kinh tế số đạt quy mô khoảng 36–40 tỷ USD năm 2025; hơn 333.950 SME đã sử dụng nền tảng số do chương trình cung cấp (tính đến giữa năm 2024), và một số doanh nghiệp đã áp dụng thành công ERP, MES, IoT, góp phần nâng cao năng suất. Đặc biệt trong ngành cơ khí – ngành công nghiệp hỗ trợ trọng điểm với khoảng 3.100 doanh nghiệp và hơn 53.000 cơ sở sản xuất, chiếm gần 30% tổng số doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo – một số SME đã bắt đầu chuyển đổi số, giúp giảm lãng phí nguyên liệu và cải thiện traceability.
Những tồn tại, khó khăn chưa khắc phục được:
Tuy nhiên, thực trạng vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua: mức độ chuyển đổi số của đa số SME còn thấp, với hơn 2/3 doanh nghiệp chỉ dừng ở mức số hóa thông tin cơ bản; tỷ lệ thành công toàn diện của các dự án chuyển đổi số thường chỉ khoảng 22–30% (theo các nghiên cứu quốc tế và khảo sát trong nước), trong khi tỷ lệ thất bại hoặc nửa vời lên tới 70–85%, chủ yếu do hạn chế về vốn, thiếu nhân lực kỹ năng số, nhận thức lãnh đạo chưa đồng đều, hạ tầng số chưa đồng bộ và chuyển đổi số – xanh chưa được tích hợp chặt chẽ. Đối với doanh nghiệp SME cơ khí Việt Nam, thách thức càng lớn hơn khi phần lớn quy mô nhỏ, máy móc truyền thống chiếm tỷ trọng cao, chi phí nguyên liệu lớn và khả năng tham gia chuỗi cung ứng FDI còn hạn chế. Việc đẩy mạnh chuyển đổi số không chỉ giúp ngành cơ khí giảm downtime máy CNC, tối ưu dung sai và nâng cao chất lượng sản phẩm, mà còn là yếu tố quyết định để tận dụng tối đa các chính sách ưu đãi theo Nghị định 205/2025/NĐ-CP, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu và hướng tới sản xuất thông minh bền vững.
Một số số liệu thống kê làm rõ tình hình thực hiện chủ trương Chuyển đổi số của Việt Nam
Giải thích ngắn về các con số:
- 500.000 SME được hỗ trợ và 300.000 doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số: Trích trực tiếp từ Quyết định 433/QĐ-TTg (2026).
- Kinh tế số 36–40 tỷ USD: Dữ liệu năm 2024–2025.
- >333.950 SME sử dụng nền tảng số: Dữ liệu thực tế đến giữa 2024 (cập nhật gần nhất).
- >2/3 SME chỉ dừng ở số hóa cơ bản: Khảo sát 2024–2025.
- Tỷ lệ thành công ~22–30%, thất bại 70–85%: Dựa trên báo cáo McKinsey và khảo sát Việt Nam (tỷ lệ thất bại toàn cầu thường 70%, Việt Nam còn cao hơn ở giai đoạn đầu).
- Ngành cơ khí: Khoảng 3.100 doanh nghiệp, 53.000 cơ sở sản xuất, chiếm gần 30% doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (dữ liệu VAMI và Bộ Công Thương).

